HẬU SẢN SAU SINH – LƯU Ý 5 BỆNH NGUY HIỂM

29/03/2022

HẬU SẢN SAU SINH – LƯU Ý 5 BỆNH NGUY HIỂM

Thời kỳ hậu sản thường kéo dài 6 tuần sau sinh, trong khoảng thời gian đó, có thể có những bất thường xảy ra, sản phụ cần đề phòng. Hậu sản sau sinh lưu ý 5 bệnh nguy hiểm thường gặp. 

Theo quan niệm y học hiện đại, hậu sản là giai đoạn 6 tuần kể từ ngày sinh. Lý do có khoảng thời gian như vậy là vì khi mang thai, các cơ quan sinh dục của phụ nữ phát triển để thích nghi với việc có em bé. Sau khi sinh con được 6 tuần, ngoại trừ tuyến vú vẫn phát triển để nuôi con, các cơ quan sinh dục đều dần trở lại bình thường như trước sinh.

Bất cứ người phụ nữ nào sau khi sinh con cũng sẽ bước vào giai đoạn hậu sản. Nếu không được chăm sóc đặc biệt trong giai đoạn sau sinh sẽ rất dễ mắc một số bệnh lý. Nhóm bệnh này được gọi chung là bệnh hậu sản.

5 bệnh hậu sản nguy hiểm thường gặp sau sinh

 

1. Băng huyết sau sinh

Băng huyết sau sinh (có nguy cơ cao nhất trong vòng 24 giờ sau sinh) là tai biến sản khoa thường gặp, nguyên nhân chính gây tử vong ở sản phụ. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng băng huyết sau sinh như: cơ tử cung yếu do sinh nở nhiều lần; sản phụ có tiền sử sảy, nạo hay hút thai nhiều lần; sản phụ đẻ nhanh, đặc biệt là ở tư thế đứng; tử cung có sẹo mổ, u xơ tử cung, tử cung bị căng giãn quá mức do đa thai, đa ối, thai to, tử cung bị dị dạng; sót nhau trong buồng tử cung; chuyển dạ kéo dài, nhiễm khuẩn ối... Băng huyết còn có thể xảy ra khi cơ thể của sản phụ bị suy nhược, hay thiếu máu, cao huyết áp, nhiễm độc thai nghén.

Bình thường sau khi sinh con và nhau sổ ra ngoài, tử cung người mẹ phải co lại để cầm máu. Khi tử cung không co lại được gây ra chảy máu, khi lượng chảy máu trên 500 ml gọi là băng huyết sau sinh, kèm theo triệu chứng vã mồ hôi, chân tay lạnh, da niêm xanh, huyết áp tụt, mạch nhanh, tử cung mềm nhão, ấn vào tử cung máu từ âm đạo chảy ra nhiều. Đây là cấp cứu khẩn về sản khoa, cần xử lý nhanh, kết hợp hồi sức, truyền dung dịch cao phân tử, truyền hồng cầu lắng cùng nhóm và xoa nắn trên đáy tử cung giúp cho tử cung co hồi tốt. Cần kiểm tra lòng tử cung sau khi dấu sinh hiệu tạm ổn.

2. Nhiễm khuẩn hậu sản

Nhiễm khuẩn hậu sản là một tai biến sản khoa xảy ra ở sản phụ sau khi sinh, làm ảnh hưởng đến sức khỏe và có thể là cả tính mạng của sản phụ. Một số loại vi khuẩn có thể gây nên tình trạng nhiễm khuẩn hậu sản như tụ cầu khuẩn, liên cầu khuẩn, E. Coli và một số loại vi khuẩn kỵ khí như Clostridium, Bacteroides. Vi khuẩn có thể từ chính cơ thể sản phụ, những người xung quanh, dụng cụ đỡ đẻ, thủ thuật mổ lấy thai...

Nhiễm khuẩn hậu sản có thể xuất phát từ âm đạo qua cổ tử cung, qua vòi tử cung rồi vào phúc mạc. Ngoài ra, vi khuẩn còn có thể xâm nhập qua chỗ nhau bám vào máu gây nhiễm trùng máu.

Một số yếu tố thuận lợi cho sự phát triển của vi khuẩn có thể kể đến như dinh dưỡng kém, thiếu máu, nhiễm độc thai nghén, ối vỡ non, chuyển dạ kéo dài, ứ sản dịch, trước đó đã từng bị viêm âm đạo, viêm cổ tử cung,... Triệu chứng của nhiễm khuẩn hậu sản thường là sốt trên 38 độ C, mệt mỏi, đau sưng mủ tại chỗ viêm, sản dịch hôi. Trong trường hợp nhiễm khuẩn hậu sản nặng, sản phụ có thể sốt cao, rét run, hạ huyết áp.

Theo bác sĩ Lưu Thị Hồng – BV Tâm Anh, có nhiều hình thái của bệnh nhiễm khuẩn hậu sản thường gặp như: Nhiễm khuẩn tầng sinh môn, âm hộ, âm đạo có nguyên nhân thường là do vết khâu tầng sinh môn không đảm bảo vô trùng, khâu không đúng kỹ thuật, không khâu, hoặc sót gạc trong âm đạo. Bác sĩ xử lý tình trạng này chủ yếu là chăm sóc tại chỗ bằng cách rửa sạch vết thương với thuốc sát khuẩn, cắt bỏ chỉ khâu tầng sinh môn khi có mủ, dùng gạc băng vết thương và có thể sử dụng kháng sinh nếu cần.

Viêm niêm mạc tử cung: nguyên nhân chủ yếu là do sót nhau, nhiễm khuẩn ối, thực hiện thủ thuật kiểm soát tử cung, bóc nhau không đảm bảo vô khuẩn. Triệu chứng của viêm niêm mạc tử cung là sản phụ sốt khoảng 38 độ C sau khi sinh, mệt mỏi, sản dịch có mùi hôi ra nhiều, có thể lẫn máu và mủ, khám thấy tử cung hé mở, tử cung co lại chậm, ấn tử cung đau. Hình thái nặng hơn của viêm niêm mạc tử cung là viêm tử cung toàn bộ có thể gây viêm phúc mạc hoặc nhiễm trùng máu. Phương pháp điều trị tình trạng viêm niêm mạc tử cung là sử dụng thuốc kháng sinh, nếu nguyên nhân gây viêm tử cung toàn bộ phải cắt bỏ tử cung toàn phần.

Nhiễm trùng huyết: là hình thái bệnh nặng nhất trong nhiễm khuẩn hậu sản, với các triệu chứng như sốt cao liên tục, nhiệt độ dao động, kèm theo rét run, triệu chứng nhiễm trùng, nhiễm độc như môi khô, lưỡi bẩn, khó thở, da vàng, áp xe. Ngoài các biểu hiện lâm sàng, bác sĩ thực hiện thêm xét nghiệm cấy máu và cấy sản dịch để chẩn đoán chính xác tình trạng bệnh. Nhiễm trùng huyết có thể gây nên những biến chứng như viêm thận, suy thận cơ năng, viêm màng não, viêm nội tâm mạc, áp xe... Điều trị bệnh bằng kháng sinh kết hợp cùng truyền máu, dùng thuốc trợ tim. Khi nhiệt độ sản phụ hạ, các bác sĩ thực hiện cắt bỏ tử cung bán phần nhằm loại trừ ổ nhiễm khuẩn tiên phát.

Ngoài ra, nhiễm khuẩn hậu sản còn có những hình thái như viêm phần phụ và dây chằng rộng, viêm phúc mạc tiểu khung, viêm phúc mạc toàn bộ, viêm tĩnh mạch.

3. Bất thường sản dịch

Sản dịch là dịch tử cung và đường sinh dục chảy ra ngoài trong những ngày đầu tiên của thời kỳ hậu sản. Trong 3 ngày đầu, sản dịch gồm máu cục và máu loãng có màu đỏ sẫm, từ ngày thứ 4 đến thứ 8 sản dịch loãng hơn, từ ngày 9 trở đi sản dịch không có máu chỉ còn dịch trong hoặc trắng chứa bạch cầu và mô màng vỏ bị hoại tử. Hiện tượng sản dịch sẽ hết trong khoản 2-3 tuần sau sinh.

Nếu sản phụ sốt nhẹ, căng tức, đau trằn vùng hạ vị, khám âm đạo rất ít sản dịch, có thể kèm mùi hôi do nhiễm trùng, cổ tử cung đóng kín, dùng tay nong cổ tử cung sản dịch ra màu đen sậm kèm mùi hôi, ấn hạ vị tử cung lớn, đau nhiều khi ấn đáy tử cung... thì có thể là những triệu chứng của tình trạng bế sản dịch.

Sản dịch bị nhiễm khuẩn nếu có mùi hôi. Bình thường sản dịch không có mủ, nhưng khi chảy qua âm hộ, âm đạo, sản dịch có thể nhiễm các vi khuẩn gây bệnh như tụ cầu, liên cầu, trực khuẩn,...

Nếu sản dịch ra nhiều, kéo dài hoặc đã hết huyết đỏ sẫm lại tái ra máu, bác sĩ cần theo dõi sót nhau khi đẻ. Một số sản phụ có thể ra một ít máu qua đường âm đạo vào thời điểm 3 tuần sau sinh. Hiện tượng này gọi là thấy kinh non do niêm mạc tử cung phục hồi sớm.

4. Tiền sản giật sau sinh

Tiền sản giật sau sinh cũng giống như chứng tiền sản giật trong giai đoạn thai kỳ. Đây là một căn bệnh hậu sản hiếm gặp nhưng vẫn có thể xảy ra khi sản phụ tăng huyết áp và protein niệu xuất hiện ngay sau sinh. Thông thường, tiền sản giật hậu sản xảy ra trong vòng 48 giờ sau sinh nhưng đôi khi muộn đến 6 tuần sau sinh.

Khi bệnh nhân mắc chứng tiền sản giật hậu sản, các bác sĩ phải khẩn trương tiến hành công tác điều trị ngay lập tức, nếu không bệnh có thể chuyển biến thành sản giật hay các biến chứng nguy hiểm khác.

Thông thường, sản phụ mắc tiền sản giật hậu sản thường sẽ có những triệu chứng như: tăng huyết áp, đạm niệu, có thể kèm theo nhức đầu, hoa mắt, chóng mặt, đau thượng vị, tiểu ít, phù, tăng cân nhanh. Tiền sản giật hậu sản có thể gây nên nhiều biến chứng nguy hiểm, như: Sản giật hậu sản: là chứng tiền sản giật kèm cơn co giật. Sản giật hậu sản có thể khiến não, gan và thận tổn thương vĩnh viễn. Nếu không được điều trị, biến chứng có thể gây tử vong. Phù phổi: Khi sản phụ bị phù phổi, nước sẽ tích trong phổi, đe dọa tính mạng người bệnh. Thuyên tắc mạch: tình trạng thiếu máu nuôi, gây hoại tử các cơ quan. Hội chứng HELLP: gồm giảm tiểu cầu, tăng huyết áp, tăng men gan. Hội chứng HELLP có thể đe dọa tính mạng của người bệnh.

Hiện nay vẫn chưa có phương pháp dự phòng chứng tiền sản giật hậu sản. Sản phụ nên chuẩn bị cho bản thân những kiến thức về bệnh, để có thể liên hệ với cơ sở y tế gần nhất khi có dấu hiệu bệnh. Bên cạnh đó, sản phụ nên theo dõi sát huyết áp và lưu ý những dấu hiệu bất thường về sức khỏe của cơ thể trong giai đoạn hậu sản.

5. Nhiễm trùng đường tiết niệu sau sinh

Nguyên nhân của bệnh viêm đường tiết niệu là do bộ phận sinh dục nữ có niệu đạo ngắn, gần hậu môn nên vi khuẩn rất dễ xâm nhập và gây bệnh. Ở phụ nữ sau sinh, việc sử dụng băng vệ sinh lâu ngày do tình trạng ra sản dịch tạo điều kiện thuận lợi để vi khuẩn xâm nhập niệu đạo. Trong một số trường hợp, vi khuẩn có thể di chuyển tới thận, gây viêm thận.

Khi mắc bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu sau sinh, sản phụ thường mắc tiểu nhiều lần nhưng lượng nước tiểu lại rất ít. Khi tiểu, sản phụ có cảm giác đau buốt, ngứa rát và nước tiểu bị đổi màu. Ngoài ra, sản phụ còn đau âm ỉ vùng bụng dưới. Trong trường hợp nặng, người bệnh có thể gặp các triệu chứng như sốt, buồn nôn, ớn lạnh.

Khi xuất hiện những triệu chứng của nhiễm trùng đường tiết niệu sau sinh, sản phụ cần đến ngay cơ sở y tế gần nhất để các bác sĩ thăm khám và điều trị. Bên cạnh đó, sản phụ cần lưu ý đến chế độ ăn uống và vệ sinh cá nhân để phòng ngừa bệnh. Lưu ý quan trọng nhất giúp sản phòng ngừa bệnh hiệu quả là giữ vệ sinh vùng kín sạch sẽ.

(Nguồn: Báo Vn Express)

BÌNH LUẬN CỦA BẠN